29-7-2011 (Nụ Cười Việt) – Nhiều trò chơi dân gian chúng ta đã từng nghe đến. Mỗi khi Tết về, trẻ con ai ai cũng thích chơi Tam Cúc, còn các cụ già thì khề khà bên bàn Tổ Tôm.
Trò chơi tổ tôm là một nét văn hóa tiêu khiển không thể thiếu được trong xã hội làng mạc Việt Nam thời xưa, cũng giống như thú chơi cờ. Tổ Tôm có thể được du nhập từ Trung Quốc từ rất lâu rồi. Tên gọi của trò chơi được đọc chệch ra từ chữ “Tụ Tam” nghĩa là hội tụ của ba hàng Văn, Vạn, Sách (là ba “chất” của bài Tổ Tôm, tương tự như Cơ, Rô, Bích, Nhép trong bài Tây)
Chơi Tổ Tôm khá là khó, và cách biến hóa cũng nhiều nên thường được nam giới và người già chơi, thanh niên và phụ nữ thời xưa ít chơi. Cũng vì khó, nhưng thú vị, nên từ cách chơi Tổ Tôm đã sinh ra một cách chơi khác dễ hơn là “Chắn” dành cho thanh niên và phụ nữ.
Tổ Tôm không phổ biến và bình dân bằng trò chơi Tam Cúc, nhưng nó thể hiện trình độ và cái oai phong của bậc quân tử như câu ca dao:
Làm trai biết đánh Tổ Tôm
Uống chè mạn hảo xem nôm Thuý Kiều
Trong văn học Việt Nam, trò chơi Tổ Tôm cũng được nhắc đến rất nhiều.
Phạm Duy Tốn với truyện ngắn “Sống chết mặc bay” trong chúng ta chắc nhiều người còn nhớ đoạn:
… Ngài quay vào hỏi thầy đề :
- Thầy bốc quân gì thế ?
- Dạ, bẩm con chưa bốc.
- Thì bốc đi chứ !
Thầy đề tay run cầm cập, thò vào đĩa nọc, rút một con bài, lật ngửa, xướng rằng :
- Chi chi !
Quan lớn vỗ tay xuống sập, kêu to :
- Ðây rồi !… Thế chứ lại !
Rồi ngài vội vàng xòe bài, miệng vừa cười vừa nói :
- Ù ! thông tôm, chi chi nẩy !… Ðiếu, mày ! …
Tất nhiên trong khi đê vỡ, dân đen thì kêu khóc chạy loạn mà “quan phụ mẫu” vẫn còn mê say trong cơn Tổ Tôm thì coi dân như cỏ rác. Ở đây chỉ muốn nói lên cái thú vị của trò chơi.
Hay như Nguyễn Công Trứ. Lúc thiếu thời, Nguyễn Công Trứ đã từng được người đời liệt vào hàng các tay đổ bác có tiếng. Ông say mê bài bạc, trong khi thơ văn thì siêu quần bạt chúng. Trong cơn đen đỏ, ông thắng cũng nhiều mà thua chẳng ít. Một lần đi đánh tổ tôm bị thua rồi mang nợ. Chủ nợ là một ông già, đến đòi năm lần bảy lượt mà Nguyễn Công Trứ cũng vẫn không có tiền giả.
Sau ông lão đòi rát quá, Nguyễn Công Trứ đành phải đi lục lọi rương hòm xem có gì đáng giá để đem cầm đợ mà lấy tiền trang trải. Nhưng khốn thay, lục mãi mà vẫn chẳng khui ra được gì ngoài mấy quyển sách nát. Túng thế, Nguyễn Công Trứ mới đọc liều cho ông già một bài thơ để xin khất nợ. Thơ rằng:
Thân “bát văn” tôi đã xác vờ
Trong nhà còn biết “bán chi” giờ
Của trời cũng muốn “không thang” bắc
Lộc thánh còn mong “lục sách” chờ
Thiên tử “nhất văn” rồi chẳng thiếu
Nhân sinh “tam vạn” hãy còn thừa
Đã không “nhất sách” kêu chi nữa
“Ông lão” tha cho cũng được nhờ !
Nghe qua cả bài thấy thơ hay mà khéo quá, câu nào cũng có tên một quân bài tổ tôm, mà đồng thời lại nói lên được cái cảnh học trò kiết không tiền nên ông lão nghĩ thương tình và mến tài, bằng lòng cho Nguyễn Công Trứ khất nợ.
Nhà thơ “bình dân” Nguyễn Khuyến cũng đâu có thể bỏ qua trò chơi này trong văn thơ của ông:
Cũng chẳng giầu mà cũng chẳng sang
Chẳng gầy chẳng béo chỉ làng nhàng
Cờ đương giở cuộc không còn nước
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng
Mở miệng nói ra gàn bát sách
Mềm môi chén mãi tít cung thang
Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ
Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng
* Nguồn: vietnamculture
